LVT Lawyers Hotline: 028.73096558 - 0902826558 – 0903386558 logo-luat-van-tin-tieng-vietlogo-luat-van-tin-tieng-anhlogo-luat-van-tin-korea

TRANH CHẤP VỀ VIỆC GIAO HÀNG SAI QUY CÁCH TRONG HỢP ĐỒNG MUA THÉP PHẾ LIỆU

PHIM QUYẾT SỐ 22

TRANH CHẤP VỀ VIỆC GIAO HÀNG TẠI SAI QUY

TRỌN GÓI ĐỒNG MUA THÉP PHẾ LIỆU

Các bên:

Nguyên đơn: Người mua Việt Nam

Đơn vị: Người bán Nhật Bản

Các vấn đề được cập nhật:

  • Thẩm quyền xử lý tài nguyên
  • Giao hàng sai quy cách theo thỏa thuận với người ủy quyền nhập khẩu (người thứ ba) khi hợp đồng xuất nhập khẩu đã được ký kết có được coi là đồng phạm vi không?

Summary Service:

Nguyên ký hợp đồng mua sắm của đơn cử 4000 MT thép phế liệu. Hợp đồng định lượng và chất lượng sản phẩm thực tế sẽ được căn cứ vào biên bản giám sát của NKKK (công ty giám sát Nhật Bản) tại xếp hạng và biên bản giám sát của Vinacontrol (công ty giám sát Việt Nam ) at up hàng. Trong trường hợp sai vượt quá ± 5% so với quy tắc tỷ lệ trong hợp đồng theo biên bản giám sát của Vinacontrol và NKKK (như đồng 1 hợp đồng) thì phần hàng có quy tắc tỷ lệ quá đó trả theo giá 50 USD / MT.

Macro process for Nguyên đơn 4.018 MT thép cấu tạo. Biên bản giám sát của Vinacontrol tại bến hàng không kết thúc:

  • Độ dày lớn hơn 40mm: 570 MT
  • Độ dày từ 20mm đến 40mm
  • Chiều dài từ 2.000mm đến 3.000mm: 925 MT
  • Chiều dài hơn 3.000mm: 180 MT
  • Độ dày từ 6mm đến 19mm: 1.220 MT
  • Chiều rộng nhỏ hơn 100mm: 1.123 MT

Như vậy, so với quy định về chất lượng hàng hóa theo hợp đồng, thì một khối lượng phần được làm sai quy định hoặc vượt quá quy định của đồng, cụ thể:

  • Độ dày lớn hơn 40mm (đồng không cho phép): 570 MT
  • Độ dày từ 20mm đến 40mm
  • Chiều dài từ 2.000mm đến 3.000mm: 325 MT
  • Chiều dài lớn hơn 3.000mm (không cho phép hợp đồng): 180 MT
  • Chiều rộng nhỏ hơn 100mm (đồng không cho phép): 1.123 MT

Sai số lượng hàng cộng cộng Kích thước tỷ lệ là 2.198 MT

Trong khi đó, dung sai cho phép theo hợp đồng là 5%: 4.018.581 ´ 5% = 200.929 MT

Theo quy định của đồng số này được tính theo giá 50USD / MT thay cho giá hợp đồng 137 USD / MT.

Macalance number of the true interface is:

4.018 MT – 1.997.071 MT = 2.020.929 MT

Số tiền mà đơn vị phải trả theo kết quả giám sát thực tế của Vinacontrol là: 1.997.071 MT ´ 50 USD / MT = 99.853,55 USD

2.020.929 MT ´ 137 USD / MT = 276.876,27 USD

Cộng = 376.720,82 USD

Vì đơn nguyên đã trả cho đơn tổng số tiền là 561.152 USD, đơn giản phải hoàn trả cho đơn số tiền:

561,152 USD – 376.720,82 USD = 184.431,18 USD

Bởi vì đơn vị không hoàn lại số tiền nói trên, đơn vị nguyên kiện đơn ra trọng tài khoản tiền.

Trong trình giải trình bản đồ, trình bày menu như sau:

Hợp đồng mua bán thép giữa Nguyên đơn và Đơn thực chất là trên cơ sở ủy quyền nhập khẩu của Công ty X Việt Nam cho Nguyên đơn. Và vì Công ty X mới thực hiện chất lượng là người có nhu cầu mua phế liệu nói trên để làm lại, trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng, Đơn vị thương mại trực tiếp với Công ty X và giao hàng theo hướng dẫn của công ty X.

Trên tế bào, số lượng được giao mà Nguyên đơn giản là “không đúng tiêu chuẩn” trở lại thực hiện hơn loại hàng quy định trong hợp đồng, cho nên Công ty X đã quyết định nhận lô hàng này trên cơ sở thỏa thuận giữa Công ty X và Menu Vì thế, đơn nguyên không có lý do gì để khiếu nại về công việc này.

Về phần mình, Nguyên đơn lập luận:

Nguyên đơn không hề biết thương lượng và thỏa thuận giữa Đơn vị và Công ty X, đồng thời Đơn vị không nhận được bất kỳ thông báo nào của Đơn vị và Công ty X.

Nguyên đơn kiện là căn cứ vào Hợp đồng mua bán ký kết giữa Nguyên đơn và Đơn vị. This ĐỒNG PHỤC KHÔNG liên quan gì đến công ty X as trình bày của đơn bị.

Phán quyết tài quan trọng:

  1. Về thẩm quyền kiểm tra tài nguyên:

Điều khoản quan trọng trong hợp đồng quy định: trong trường hợp hai bên không giải quyết được tranh chấp nhận bằng thương lượng, sự việc được đưa ra Trung tâm trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, sự quyết định của sự quan trọng tài nguyên là cuối cùng đối với hai bên.

Theo quy định về tổ chức hiện nay, bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chỉ có duy nhất một Trung tâm quan trọng tài chính quốc tế đó là Trung tâm quan trọng tài chính quốc tế Việt Nam, vì vậy Trung tâm quan trọng tài chính quốc tế Việt Nam Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam có thẩm quyền kiểm tra việc chấp nhận này.

Mặt khác, sau khi có thông báo về sự kiện của Nguyên đơn, Đơn gửi văn bản cho Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam trình bày điểm của mình về đơn kiện. Như vậy, Đơn và Nguyên đơn đã chấp nhận thẩm quyền kiểm tra của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong công việc này.

  1. Về hàng hóa được sai lệch tỷ lệ kích thước so với quy định của hợp đồng:

Biên bản giám sát tại thác tung hàng NKKK kết luận được giao có tiêu chuẩn phù hợp với quy định của đồng hợp lệ với sai lệch tỷ lệ trong phạm vi cho phép. Trong khi đó, biên soạn giám sát ở cửa hàng do Vinacontrol cấp lại có kết luận khác (2.198 MT được giao sai kích thước). Đơn cử không có phản hồi gì về biên bản giám đốc này (trong bản giải trình gửi cho tài liệu quan trọng, Đơn vị thừa nhận là lô hàng này “thiếu tiêu chuẩn”). Như vậy, dù biên soạn giám định có đánh giá khác nhau về chất lượng hàng hóa nhưng có thể kết hợp là Nguyên đơn và đơn giản đều thừa nhận giao hàng sai quy cách. Sai lệch kích thước hàng hóa, thì đơn hàng phải chịu trách nhiệm trước đơn nguyên.

Ủy ban tài chính quan trọng không chấp nhận lý do có liên quan đến công ty X mà được đơn đề nghị trong bản giải trình bởi đơn hàng là hợp đồng ký kết với đơn vị Nguyên chứ không phải với công ty X. Công ty X không phải là một bên của hợp đồng, không có tư cách để tiến hành thương mại với đơn vị về việc thực hiện đồng. Vì vậy, mọi sự thỏa mãn giữa đơn bị và người thứ ba không có ràng buộc giá trị đối với đơn nguyên và càng không có phần sửa đổi giá trị bổ sung điều khoản của đồng hợp đồng về kích thước của hàng hóa.

Đơn nguyên đã xuất ra cho thư hai văn bản quan trọng của đơn trong đó Đơn từ hoàn trả lại một phần tiền hàng với nhà quản lý cung cấp số lượng đó cho Đơn bị từ bỏ tiền bồi thường. Số tiền mà đơn nguyên là quá lớn và để tránh nguy cơ sản xuất, đơn vị không thể trả tiền cho đơn nguyên được. Lý do này không thể chấp nhận được bởi đơn vị tham gia ký kết hợp đồng, thì phải có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó. Khó khăn về tài chính không thể được coi là một nhân nguyên để miễn cho Đơn vị trách nhiệm trước Đơn nguyên.

  1. Về số tiền phải hoàn trả:

Sự hoàn trả tiền tính toán của đơn nguyên hoàn toàn phù hợp với quy định tại đồng. Vì vậy, đơn hạn chế tài nguyên quan trọng phải hoàn trả cho đơn nguyên (người nhập khẩu) 184.405,12 USD.

Bình luận và lưu ý:

Trong hoạt động xuất nhập khẩu, ủy quyền xuất nhập khẩu là một công việc phổ biến, đặc biệt trong các đơn vị trường có nhu cầu nhập khẩu / xuất khẩu hàng hóa không được phép nhập khẩu / xuất khẩu trực tiếp. Tuy nhiên, cần lưu ý là trong ủy quyền nhập / xuất khẩu, người nhận ủy quyền là người trực tiếp ký hợp đồng xuất nhập khẩu (hợp đồng mua bán với đối tác nước ngoài) và là một bên trong hợp đồng này. Ủy quyền người dùng không phải là một bên của hợp đồng, không có quyền tham gia vào việc điều chỉnh hoặc hợp đồng sửa đổi. Do đó, nếu có tranh chấp nhận phát sinh từ hợp đồng xuất nhập khẩu, các bên không thể viện dẫn đến người ủy quyền nhập khẩu để làm căn cứ trách nhiệm cho mình.

Khi ký hợp đồng xuất nhập khẩu, đặc biệt trong trường hợp có ủy quyền xuất nhập khẩu, nên xác định và ghi rõ tên của các bên trong hợp đồng để tránh những tranh chấp không đáng có sau này liên quan đến chủ thể. hợp đồng.

Bài viết Tư Vấn Hợp Đồng