LVT Lawyers Hotline: 0938086558 – 0904762880 logo-luat-van-tin-tieng-vietlogo-luat-van-tin-tieng-anhlogo-luat-van-tin-korea

Ông Nguyễn Văn A là cán bộ của Viện khoa học Y, đã tốt nghiệp đại học Luật. Trong quá trình công tác, ông A đã bào chữa cho một số bị cáo và bảo vệ quyền lợi của một số đương sự; ông A tự xưng mình là “Bào chữa viên nhân dân”; mỗi lần đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án để liên hệ xin cấp chứng nhận là người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền lợi của đương sự, ông A đều xin giấy giới thiệu của Viện khoa học Y với chức danh là “Bào chữa viên nhân dân”; một số cơ quan tiến hành tố tụng đã cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ông A, ông A lại sử dụng giấy chứng nhận này để đến cơ quan tiến hành tố tụng khác liên hệ xin cấp giấy chứng nhận bào chữa. Với cách này, ông A đã bào chữa cho nhiều bị cáo và bảo vệ quyền lợi cho nhiều đương sự. Việc cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ông A có đúng không ?

Theo quy định của pháp luật người bào chữa có thể là:

  1. Luật sư.
  2. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
  3. Bào chữa viên nhân dân.

Về vấn đề bào chữa viên nhân dân thì không có định nghĩa cụ thể nào quy định người như thế nào thì được coi là bào chữa viên nhân dân, các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương cũng chưa có hướng dẫn nên mỗi nơi thực hiện khác nhau.

Tuy nhiên, căn cứ vào hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02-10-2004 về quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự thì một người được coi là bào chữa viên nhân dân khi người đó được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình.

Như vậy, trường hợp của ông A tự xưng là “bào chữa viên nhân” và Cơ quan của ông A cấp giấy giới thiệu cho ông A và cơ quan tiến hành tố tụng cũng cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ông A là không đúng với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Hỏi đáp Hình Sự