LVT Lawyers Hotline: 028.73096558 - 0902826558 – 0903386558 logo-luat-van-tin-tieng-vietlogo-luat-van-tin-tieng-anhlogo-luat-van-tin-korea

Hỏi đáp

CHUYÊN MỤC HỎI ĐÁP

CÂU HỎI MỚI

  • NSDLĐ phải xử lý như thế nào trong trường hợp NLĐ không phản hồi về thông báo của NSDLÐ về kết quả của việc làm thử?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Lao Động

    Theo quy định của pháp luật lao động, NSDLĐ có nghĩa vụ thông báo kết quả về việc làm thử của NLĐ trong thời gian thử việc như sau:

    (Điều 27 Bộ luật Lao động và Điều 7 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015.)

    – Thông báo trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc của NLĐ đối với NLĐ mà có trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên (thời gian thử việc tối đa là 60 ngày) hoặc đối với NLĐ có trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ (thời gian thử việc tối đa là 30 ngày); hoặc

    – Thông báo vào ngày cuối cùng khi kết thúc thời gian thử việc đối với NLÐ thử việc có thời hạn thử việc không quá 06 ngày làm việc. Nếu công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, NSDLĐ phải giao kết HĐLĐ với NLĐ. Như vậy, trước tiên, NSDLĐ có nghĩa vụ phải tuân thủ thời hạn thông báo cho NLĐ biết kết quả công việc đã làm thử trong thời hạn như trên.

    Về phía NLĐ, pháp luật lao động hiện hành không có. định về thời hạn bắt buộc mà NLĐ phải phản hồi thông báo về kết quả thử việc đạt yêu cầu của NSDLĐ. Về nguyên tắc, NLĐ chỉ phải phản hồi ý kiến của họ không muộn hơn ngày cuối cùng của thời hạn thử việc về việc có đồng ý giao kết HĐLĐ với NSDLĐ hay không.

    Giả định trong trường hợp NSDLĐ đã thực hiện thông báo kết quả thử việc đạt yêu cầu đến NLĐ 03 ngày trước khi kết thúc thời hạn thử việc, thì NSDLÐ có thể phải đợi phản hồi của NLĐ đến thời điểm kết thúc thời gian thử việc để đưa ra hướng giải quyết tại thời điểm hết thời gian thử việc. Cụ thể như sau:

    • Trong trường hợp NLĐ đồng ý ký HĐLĐ, NSDLĐ và NLĐ sẽ tiến hành giao kết HĐLÐ;
    • Trong trường hợp NLĐ không đồng ý giao kết HĐLĐ, NSDLĐ nên tiến hành lập thỏa thuận về chấm dứt thời gian thử việc và NLĐ không tiếp tục làm việc để tránh rủi ro liên quan đến việc NLĐ khiếu nại NSDLĐ không ký kết HĐLĐ sau khi kết thúc thời gian thử việc.

    Tuy nhiên, nếu sau khi kết thúc thời hạn thử việc, mà NLĐ vẫn không chịu phản hồi về việc có ký HĐLĐ hay không nhưng vẫn tiếp tục đi làm thì trường hợp này HĐLÐ chưa được giao kết vì lỗi của NLĐ nên quan hệ lao động giữa các bên coi như chưa được xác lập. Theo tham khảo ý kiến của chuyên viên Sở LĐTBXH Thành phố Hồ Chí Minh, nếu NSDLĐ có đầy đủ chứng cứ về việc đã nhắc nhở, thúc

    HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG đẩy, xúc tiến việc các bên phải giao kết HĐLĐ, NSDLĐ có thể yêu cầu cơ quan quản lý lao động địa phương có thẩm quyền và Tòa án giải quyết trên cơ sở cung cấp các tài liệu chứng minh NLÐ đã không thực hiện nghĩa vụ phản hồi đến NSDLĐ khi kết thúc thời gian thử việc (như thông báo kết quả thử việc đạt yêu cầu, thư nhắc nhở..) để có cơ sở chấm dứt việc giao kết HĐLĐ với NLĐ.

  • Các văn phòng đại diện cho thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có được quyền trực tiếp tuyển dụng nhân sự là người Việt Nam làm việc cho văn phòng đại diện không? Nếu không được thì phải thông qua các cơ quan Nhà nước nào? Văn phòng đại diện có phải trả phí dịch vụ tuyển dụng cho các cơ quan Nhà nước này không? Nếu các cơ quan Nhà nước này không tìm được người theo yêu cầu thì văn phòng đại diện có thể trực tiếp tuyển dụng nhân sự không? Thời gian chờ đợi các cơ quan Nhà nước tìm được người phù hợp là bao lâu? Nếu được phép tuyển dụng trực tiếp thì văn phòng đại diện vẫn phải báo cáo định kỳ cho cơ quan Nhà nước đó không?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Lao Động

    1. Các văn phòng đại diện cho thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có được quyền trực tiếp tuyển dụng nhân sự là người Việt Nam làm việc cho văn phòng đại diện không? Nếu không được thì phải thông qua các cơ quan Nhà nước nào? Văn phòng đại diện có phải trả phí dịch vụ tuyển dụng cho các cơ quan Nhà nước này không?

    Theo quy định của pháp luật, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam (“VPĐD”) không được trực tiếp tuyển dụng NLĐ là người Việt Nam làm việc cho VPĐD mà phải thông qua tổ chức có thẩm quyen tuyển, quản lý NLĐ là người Việt Nam làm việc cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài.

    (Điều 4.1(a) và 4.2(a) Nghị định 75/2014/NĐ-CP ngày 28/7/2014.)

    Theo đó, việc tuyển chọn, giới thiệu và quản lý NLĐ là người Việt Nam làm việc tại sẽ thuộc thẩm quyền của tổ chức được Bộ Ngoại giao giao hoặc ủy quyền. Ví dụ, tại Thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức được Bộ Ngoại giao giao hoặc ủy quyển hiện nay là Công ty TNHH Một Thành Viên Dịch vụ Cơ quan nước ngoài (FOSCO).

    Liên quan đến phí dịch vụ tuyển dụng, quy định của pháp luật chưa có quy định cụ thể. Thực tiễn cho thấy, khoản phí dịch vụ đối với việc tuyển chọn, giới thiệu NLĐ là người Việt Nam cho VPĐD tại FOSCO hiện nay là khoảng từ 20% – 30% tiền lương tháng đầu tiên của 01 NLĐ tuyển dụng được. Lưu ý là mức phí này có thể được FOSCO thay đổi tại từng thời điểm.

    2. Nếu các cơ quan Nhà nước này không tìm được người theo yêu cầu thì văn phòng đại diện có thể trực tiếp tuyển dụng nhân sự không? Thời gian chờ đợi các cơ quan Nhà nước tìm được người phù hợp là bao lâu? Nếu được phép tuyển dụng trực tiếp thì văn phòng đại diện vẫn phải báo cáo định kỳ cho cơ quan Nhà nước đó không?

    Do việc tuyển dụng NLĐ là người Việt Nam làm việc tại VPĐD phải được tiến hành thông qua tổ chức được Bộ Ngoại giao giao hoặc ủy quyền, nên khi tuyển dụng NLĐ là người Việt Nam, VPĐD phải tuân thủ quy trình, thủ tục tuyển dụng như sau:

    (Điều 6 Nghị định 75/2014/NĐ-CP ngày 28/7/2014.)

    Bước 1: Khi có nhu cầu sử dụng NLĐ là người Việt Nam, VPĐD phải gửi văn bản đề nghị tuyển NLĐ là người Việt Nam đến tổ chức có thẩm quyền tuyển, quản lý NLĐ Việt Nam. Trong văn bản phải nêu rõ yêu cầu. về vị trí việc làm, số lượng, trình độ chuyên môn kĩ thuật, nghiệp vụ, ngoại ngữ, thời hạn cần tuyển; quyền lợi, nghĩa vụ của NLĐ là người Việt Nam và của VPĐD. trong quá trình làm việc và khi thôi việc đối với từng vị trí việc làm cần tuyển;

    Bước 2A: Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của VPĐD, tổ chức có thẩm bp quyền tuyển, quản lý NLĐ là người Việt Nam có trách nhiệm tuyển chọn, giới thiệu NLÐ là người Việt Nam theo để nghị của VPĐD;

    Bước 2B: Hết thời hạn này mà tổ chức có thẩm quyền tuyển, quản lý NLĐ là người Việt Nam không tuyển chọn, giới thiệu được NLĐ là người Việt Nam thì VPĐD mới được trực tiếp tuyển dụng; và

    Bước 3: Trong thời hạn 07 ngày làm việc sau khi ký kết HĐLĐ với NLĐ là người Việt Nam, VPDĐ phải thông báo bằng văn bản kèm bản sao HĐLĐ đã ký kết với NLĐ là người Việt Nam cho tổ chức có thẩm quyền tuyển, quản lý NLĐ là người Việt Nam.

    Như vậy, VPĐD vẫn có thể tự mình trực tiếp tuyển dụng NLĐ là người Việt Nam, với điều kiện đã gửi văn bản đe nghị (tại Bước l1) nhưng tổ chức có thẩm quyền tuyên. quản lý NLĐ là người Việt Nam không tuyển chọn, giới thiệu được NLĐ sau 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đôn đề nghị của VPÐD.

    Ngoài ra, trước ngày 10/6 và ngày 10/12 hằng năm, VPĐD còn phải nộp báo cáo định kỳ 06 tháng và hằng năm về tình hình tuyển dụng, sử dụng NLĐ là người Việt Nam cho tổ chức có thẩm quyền tuyển, quản lý NLĐ là người Việt Nam theo mẫu quy định”). Do đó, kể cả trường hợp VPĐD được phép trực tiếp tuyển dụng như được nêu tại Bước 2B nói trên, VPĐD vẫn có nghĩa vụ báo cáo định kỳ về tình hình tuyển dụng, sử dụng NLĐ là người Việt Nam cho tổ chức được Bộ Ngoại giao giao hoặc ủy quyền.

    (Điều 8.3 Nghị định 75/2014/NĐ-CP và Điều 5.1(a) Thông tư 16/2015/TT-BLĐTBXH.)

  • Hợp đồng cộng tác viên có phải là một loại HĐLĐ không? Việc giao kết hợp đồng cộng tác viên có rủi ro pháp lý gì cho NSDLĐ không?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Lao Động

    1. Hợp đồng cộng tác viên có phải là HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định hay không?

     1.1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh hợp đồng cộng tác viên

    Về mặt pháp lý, hợp đồng cộng tác viên có thể được xem là một loại hợp đồng dịch vụ do tồn tại mối quan hệ giữa bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ. Khái niệm về hợp đồng dịch vụ hiện nay đang được điều chỉnh bởi hai nguồn luật chính là Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại. Vấn đề đặt ra ở đây là Bộ luật Dân sự hay Luật Thương mại sẽ là nguồn luật điều chỉnh trong trường hợp này? Xem xét bản chất của hợp đồng cộng tác viên, có thể thấy rằng đây là một hoạt động nhằm mục đích sinh lời (cả doanh nghiệp là bên sử dụng dịch vụ và cá nhân là bên cung ứng god b dịch vụ đều hướng đến mục đích tìm kiếm lợi nhuận) nên onguồn luật điều chỉnh đối với loại hợp đồng cộng tác viên sẽ là Luật Thương mại căn cứ vào các nguyên tắc về pham vi điều chỉnh của Luật Thương mại.

    1.2. Hợp đồng cộng tác viên có thể được xem là một loại HĐLÐ hay không?

    Theo quy định của pháp luật lao động hiện hành, có ba loại HĐLĐ mà NSDLĐ có thể giao kết với NLÐ đó là HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLÐ xác định thời hạn và HĐLÐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có o in thời hạn dưới 12 tháng”. Do đó, về cơ bản thì hợp đóng cộng tác viên không phải là một loại HĐLĐ được quy định trong Bộ luật Lao động.

    (Điều 22.1 Bộ luật Lao động.)

    Tuy nhiên, xem xét nội dung của một HĐLĐ, Bộ luật Lao động có nêu định nghĩa về HÐLÐ như sau: “HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLÐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”. (Điều 15 Bộ luật Lao động.)

    Cụ thể, một HĐLĐ phải có những quy định liên quan đến quyền lợi của NLĐ chẳng hạn hạn hợp đồng tối đa là dưới 12 tháng), tiền lương, thời như: thời hạn của HĐLĐ (đối với HĐLĐ mùa vụ thì thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác, chế độ nâng lương, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, làm them giờ…

    (Điều 23.1 Bộ luật Lao động.)

    Do vậy, nếu nội dung của hợp đồng cộng tác viên lại bao gồm những nội dung giống hoặc tương tự như nội dung của HĐLÐ thì hợp đồng cộng tác viên có thể được xem là một HĐLĐ, tức là giữa các bên đã xác lập mối quan hệ lao động chứ không phải là mối quan hệ cung ứng dịch vụ.

    2.Rủi ro pháp lý đối với NSDLĐ khi giao kết hợp đồng cộng tác viên thay cho HĐLĐ.

    Thứ nhất, về chủ thể giao kết hợp đồng, Điều 2 Luật Thương mại quy định, các hoạt động thương mại (bao Anjb gồm hoạt động cung ứng dịch vụ) đều phải được thương nhân thực hiện (cụ thể là tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh), chỉ trừ trường hợp “cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh”.

    (Điều 2 Luật Thương mại.)

    Các trường hợp được xem là cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh đã được liệt kê cụ thể tại Nghị định 39/2007/NĐ-CP ngày 16/03/2007, chủ yếu bao gồm các loại hình dịch vụ nhỏ lẻ như đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định và những cá nhân này sẽ không được gọi là thương nhân. Đặt vào trường hợp giữa cá nhân và doanh nghiệp (cụ thể trong mối quan hệ hợp đồng cộng tác viên), rõ ràng là doanh nghiệp không đi thuê một cá nhân để cung cấp thường xuyên loại dịch vụ nhỏ lẻ nêu trên mà là thuá cá nhân vào các hoạt động dịch vụ có liên quan đến một chuyên môn và trình độ nhất định nào đó, và khi thưc hiện cung ứng dịch vụ (ngoài các dịch vụ nhỏ lẻ trên) các cá nhân phải có đăng ký kinh doanh theo quy định mới được phép thực hiện.

    Chính vì vậy, việc doanh nghiệp ký hợp đồng cộng tác viên như trên với một cá nhân để thực hiện các dịch vụ có liên quan đến một chuyên môn và trình độ nhất định có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro cho doanh nghiệp bởi vì cá nhân cung cấp dịch vụ đó có thể không được pháp luật thừa nhận là “cá nhân không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Thương mại” để được phép cung cấp dịch vụ cho một thương nhân là doanh nghiệp.

    Mặt khác, như đã phân tích ở trên, việc hợp đồng cộng tác viên không phải là một loại HĐLÐ được quy định và điều chỉnh bởi Bộ luật Lao động nhưng về bản chất giữa các bên đã xác lập mối quan hệ lao động thông qua hợp đồng cộng tác viên nên sẽ tồn tại nhiều rủi ro cho NSDLĐ. Bởi vì, nếu người cộng tác viên nắm được các quy định của pháp luật lao động và khởi kiện doanh nghiệp tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi của họ thì doanh nghiệp có thể gặp rủi ro là Tòa án sẽ không công nhận tính pháp lý của hợp đồng cộng tác viên và doanh nghiệp sẽ buộc phải giao kết HĐLĐ với người cộng tác viên đó để xác lập mối quan hệ lao động giữa các bên theo đúng quy định của pháp luật lao động. Khi đó, ngoài việc phải giao kết HĐLÐ, doanh nghiệp có thể sẽ phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của NSDLĐ đối với NLĐ cho khoảng thời gian mà NLĐ đã anyb làm việc cho doanh nghiệp trước đó theo hợp đồng cộng tác viên (bao gồm cả các quyền lợi về đóng các loại bảo hiểm bắt buộc cho NLĐ, trả tiền lương làm thêm giờ..). Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt tối đa là 4.000.000 đồng về việc không giao oub kết đúng loại HĐLĐ với NLĐ.

    (Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/08/2013, được sửa đổi, bổ: Nghị định 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015.)

    Từ các phân tích nêu trên, doanh nghiệp nên cần nhắc giao kết HĐLÐ theo mùa vụ với cộng tác viên (phải tuân theo các yêu cầu và quy định về hợp đồng mùa vụ) theo quy định của pháp luật lao động thay vì ký hợp đồng cộng tác viên nhằm tuân thủ quy định của pháp. lao động hiện hành và hạn chế rủi ro về tranh chấp như trên. Cũng lưu ý thêm rằng, khi giao kết HĐLĐ theo mùa vụ, doanh nghiệp chỉ được giao kết HĐLĐ theo mùa vụ với thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc không có tính chất thường xuyên (trừ trường hợp phải tạm thời thay thế NLĐ đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác). Nếu công việc đó có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên thì NSDLÐ phải ký kết HÐLÐ xác định thời hạn với NLĐ theo như quy định của pháp luật lao động.

  • Kinh doanh mỹ phẩm online cần làm thủ tục pháp lý gì?
    Chuyên mục : Bài viết Thành Lập Doanh Nghiệp

    Trong thời đại 4.0, việc kinh doanh online ngày càng phát triển mạnh mẽ, cộng với đó là nhu cầu làm đẹp của con người ngày càng tăng, chính vì thế mà việc kinh doanh mỹ phẩm online ngày càng được nhiều người lựa chọn, bởi sự tiện lợi, nhanh chóng và tiết kiệm được thời gian, chi phí. Do đó, nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cũng như nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước thì việc kinh doanh mỹ phẩm online cần phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định.

    Vậy, kinh doanh mỹ phẩm online có cần phải đăng ký kinh doanh không? Trình tự, thủ tục bao gồm những gì? Có phải đóng thuế không? Phải đóng những loại thuế nào? Có cần phải xin thêm giấy phép con gì không?

    Để kinh doanh mỹ phẩm online, ta thực hiện các bước như sau (chỉ xét về mặt pháp lý):

    Bước 1: Xác định hoạt động bán mỹ phẩm online của mình có bao gồm sản xuất, nhập khẩu hay đã có (dự định mở) cửa hàng không. Từ đó xác định có phải đăng ký kinh doanh không.

    Bước 2: Thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh (nếu có)

    Bước 3: Xác định các loại thuế phải nộp

    Bước 4: Xin các loại giấy phép con (nếu có)

    Bước 5: Tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh

    Trước hết, phải xem xét hoạt động này có bắt buộc phải đăng ký kinh doanh (tức phải thành lập hộ kinh doanh hay doanh nghiệp) không.

    1. Kinh doanh mỹ phẩm online có cần đăng ký kinh doanh không?

    Đầu tiên, phải xét đến việc Quý Khách hàng ngoài việc bán online mỹ phẩm thì có sản xuất mỹ phẩm không, có nhập khẩu mỹ phẩm không, đã có cửa hàng cố định hay chưa, vì các yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến việc Quý Khách hàng có phải đăng ký kinh doanh hay không.

    Trường hợp 1: Chỉ bán mỹ phẩm online và không sản xuất, không nhập khẩu mỹ phẩm

    Ở trường hợp này, Quý khách hàng chỉ bán online mỹ phẩm chứ không sản xuất hay nhập khẩu, thì ta chỉ xét đến hoạt động kinh doanh mỹ phẩm online thì có phải đăng ký kinh doanh không.

    Căn cứ Khoản 1, Điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP quy định về cá nhân hoạt động thương mại không là thương nhân và không phải đăng ký kinh doanh, trong đó bao gồm cá nhân thực hiện hoạt động:

    “e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.”

    Như vậy, trong trường hợp này Quý Khách hàng được xem là một cá nhân hoạt động thương mại độc lập, tự do. Nếu chỉ bán hàng online mà không có địa điểm kinh doanh cố định như cửa hàng,… thì không bắt buộc phải đăng kí kinh doanh, trừ những mặt hàng pháp luật cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện.

    Trường hợp 2: Có sản xuất mỹ phẩm (mỹ phẩm handmade)

    Ở trường hợp này, ta xét đến hoạt động sản xuất mỹ phẩm vì nó là yếu tố quyết định Quý Khách hàng có phải đăng ký kinh doanh không.

    Căn cứ vào Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 06/2011/TT-BYT quy định: “Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra lưu thông trên thị trường phải có chức năng kinh doanh mỹ phẩm tại Việt Nam.”

    Bên cạnh đó, ngành nghề kinh doanh sản xuất mỹ phẩm là ngành nghề kinh doanh có điều kiện (theo Phụ lục IV của Luật Đầu tư 2020), nên pháp luật quy định rất cụ thể về điều kiện nhà xưởng, kho bảo quản,… Mà một khi đã có nhà xưởng, địa điểm kinh doanh cố định đồng nghĩa với việc Quý Khách hàng phải đăng ký kinh doanh.

    Do đó, khi sản xuất mỹ phẩm phải đăng ký kinh doanh.

    Trường hợp 3: Có nhập khẩu mỹ phẩm

    Trường hợp Quý Khách hàng chỉ bán mỹ phẩm nhập khẩu online thông qua các trang mạng xã hội (Facebook, Zalo,…), sàn giao dịch điện tử (Shopee, Lazada,..) và không có cửa hàng thì không cần phải đăng ký kinh doanh, vì pháp luật chưa quy định cụ thể đối với hoạt động kinh doanh này.

    Trường hợp có cửa hàng và bán các loại mỹ phẩm nhập khẩu thì Quý khách hàng phải đăng ký kinh doanh và tuân thủ các quy định về nhập khẩu hàng hóa để tránh bị phạt khi cơ quan nhà nước xuống kiểm tra (như phải xuất trình được hóa đơn chứng từ nhập khẩu, phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm,…).

    Lưu ý: Trường hợp mở cửa hàng (shop) thì phải đăng ký kinh doanh, bất kể có hay không hoạt động sản xuất, nhập khẩu mỹ phẩm.

    2. Thủ tục đăng ký kinh doanh

    Có hai mô hình kinh doanh cho Quý khách hàng lựa chọn là Hộ kinh doanh và Doanh nghiệp.

    Xem thêm: So sánh hộ kinh doanh và doanh nghiệp

    2.1 Thủ tục đăng ký thành lập hộ kinh doanh

    + Bước 1: Chuẩn bị đầy đủ một (01) bộ hồ sơ, bao gồm:

    • Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh;
    • Bản sao có chứng thực CMND, Thẻ CCCD hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực của cá nhân đối với chủ hộ kinh doanh; thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh (trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh);
    • Bản sao biên bản họp thành viên hộ gia đình về việc thành lập hộ kinh doanh trong trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh;
    • Bản sao văn bản ủy quyền của thành viên hộ gia đình cho một thành viên làm chủ hộ kinh doanh đối với trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh.

    + Bước 2: Nộp hồ sơ trực tiếp tại Phòng Tài chính – Kế hoạch của Ủy ban nhân dân cấp quận/huyện, nộp lệ phí và nhận về Giấy biên nhận

    + Bước 3: Sau 03 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ, nhận kết quả tại nơi nộp hồ sơ.

    – Cơ quan giải quyết: Phòng Tài chính – Kế hoạch của Ủy ban nhân dân cấp quận/huyện

    – Thời hạn giải quyết: 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.

    Xem thêm: Các lưu ý khi thành lập hộ kinh doanh

    2.2 Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp

    Pháp luật hiện hành quy định có 04 loại hình doanh nghiệp:

    – Công ty TNHH (TNHH một thành viên, TNHH hai thành viên trở lên)

    – Công ty cổ phần

    – Doanh nghiệp tư nhân

    – Công ty hợp danh

    Tuy nhiên, phổ biến nhất là loại hình công ty TNHH và công ty cổ phần, trường hợp chỉ một cá nhân thì nên thành lập Công ty TNHH một thành viên.

    Các bước thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp như sau:

    a) Xin cấp Giấy phép kinh doanh

    + Bước 1: Sau khi lựa chọn được loại hình, tên, địa chỉ doanh nghiệp. Chuẩn bị đầy đủ một (01) bộ hồ sơ, bao gồm:

    • Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp;
    • Bản sao có chứng thực CMND, Thẻ CCCD hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực của các thành viên, đại diện pháp luật;
    • Điều lệ công ty;
    • Tùy theo loại hình doanh nghiệp mà còn có các giấy tờ: Danh sách thành viên/cổ đông sáng lập,…

    + Bước 2: Nộp hồ sơ online tại trang Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp: https://dangkykinhdoanh.gov.vn/

    + Bước 3: Sau 03 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ online, nhận thông báo hồ sơ hợp lệ, sau đó đem bộ hồ sơ đã nộp online kèm theo Biên nhận và Thông báo hợp lệ nộp trực tiếp tại Sở KHĐT

    + Bước 4: Sau 01 ngày làm việc, đến Phòng trả kết quả nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GPKD).

    b) Nộp hồ sơ khai thuế ban đầu tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp

    Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có GPKD, Doanh nghiệp phải nộp hồ sơ khai thuế ban đầu tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Tùy vào cơ quan thuế mà sẽ yêu cầu hồ sơ khác nhau. Thông thường, hồ sơ khai thuế ban đầu bao gồm:

    + Đơn đăng ký hình thức kế toán

    + Đơn đăng ký phương pháp khấu hao tài sản cố định

    + Quyết định bổ nhiệm Giám đốc

    + Quyết định bổ nhiệm phụ trách kế toán

    >>Xem thêm: Các lưu ý trước khi thành lập doanh nghiệp

    Lưu ý:

    – Trường hợp bán mỹ phẩm online qua các trang mạng xã hội, sàn giao dịch điện tử thì chỉ cần tuân thủ các quy định về bán hàng trực tuyến theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

    – Trường hợp bán mỹ phẩm online thông qua website của chính người bán tạo lập thì người bán hàng phải thực hiện thủ tục thông báo website bán hàng trực tuyến với Bộ Công thương.

    Xem thêm: Thủ tục thông báo website bán hàng trực tuyến với Bộ Công thương.

    3. Các loại thuế phải nộp

    CSPL: Thông tư 92/2015/TT-BTC, Nghị định 139/2016/NĐ-CP

    Nguyên tắc cơ bản là khi kinh doanh có lợi nhuận thì phải nộp thuế và pháp luật chỉ loại trừ một số trường hợp đối với kinh doanh nhỏ lẻ mà thôi. Do đó, dù có hay không đăng ký kinh doanh thì Quý Khách hàng vẫn phải nộp thuế nếu thuộc trong các trường hợp sau:

    – Trường hợp không đăng ký kinh doanh: có doanh thu trong năm dương lịch trên 100.000.000 đồng phải nộp lệ phí môn bài, thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng (mức nộp, thời hạn nộp và phương pháp tính thuế giống với hộ kinh doanh).

    >>Xem chi tiết:Các loại thuế phải nộp 

    – Trường hợp đăng ký kinh doanh:

    + Các loại thuế mà hộ kinh doanh có doanh thu trên 100.000.000/năm phải nộp:

    • Lệ phí môn bài
    • Thuế Giá trị gia tăng
    • Thuế Thu nhập cá nhân

    + Các loại thuế mà doanh nghiệp phải nộp:

    • Lệ phí môn bài
    • Thuế Giá trị gia tăng
    • Thuế Thu nhập cá nhân
    • Thuế Thu nhập doanh nghiệp

    Ngoài ra, nếu nhập khẩu mỹ phẩm còn phải chịu Thuế nhập khẩu, Lệ phí hải quan,…

    4. Giấy phép con – Các thủ tục khác

    4.1 Đối với hoạt động sản xuất mỹ phẩm

    Đối với những Quý Khách hàng sản xuất mỹ phẩm, trước khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phải xin được Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm đến Sở Y tế (Điều 9, Nghị định 93/2016/NĐ-CP).

    a) Xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm

    – Điều kiện xét cấp

    Căn cứ Điều 4, Nghị định Nghị định 93/2016/NĐ-CP, để được xét cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm, Quý Khách hàng phải có cơ sở sản xuất đáp ứng được các điều kiện:

    • rang thiết bị đáp ứng với yêu cầu về dây chuyền sản xuất, loại sản phẩm mỹ phẩm mà cơ sở đó dự kiến sản xuất như đã nêu trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm;
    • Kho bảo quản nguyên liệu, vật liệu đóng gói và thành phẩm phải bảo đảm có sự tách biệt giữa nguyên liệu, vật liệu đóng gói và thành phẩm; có khu vực riêng để bảo quản các chất dễ cháy nổ, các chất độc tính cao, nguyên, vật liệu và sản phẩm bị loại, bị thu hồi và bị trả lại.

    + Có hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng các yêu cầu sau:

    • Nguyên liệu, phụ liệu, bán thành phẩm dùng trong sản xuất mỹ phẩm phải đạt tiêu chuẩn chất lượng của nhà sản xuất.
    • Nước dùng trong sản xuất mỹ phẩm tối thiểu phải đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước ăn uống do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
    • Có quy trình sản xuất cho từng sản phẩm.
    • Có bộ phận kiểm tra chất lượng để kiểm tra chất lượng của nguyên liệu, bán thành phẩm, sản phẩm chờ đóng gói và thành phẩm.

    Sau khi đã có cơ sở sản xuất đủ điều kiện yêu cầu, Quý Khách hàng thực hiện theo các bước sau:

    – Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ

    Căn cứ Điều 4, Nghị định Nghị định 93/2016/NĐ-CP, hồ sơ một bộ bao gồm:

    • Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm theo Mẫu số 02 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này;
    • Sơ đồ mặt bằng và thiết kế của cơ sở sản xuất;
    • Danh mục thiết bị hiện có của cơ sở sản xuất.

    – Bước 2: Nộp trực tiếp hoặc gửi bưu điện đến Sở Y tế tỉnh nơi có cơ sở sản xuất.

    – Bước 3: Trong vòng 02 ngày làm việc, nhận được Phiếu tiếp nhận hồ sơ hoặc Thông báo sửa đổi, bổ sung hồ sơ.

    Trường hợp nhận được Phiếu tiếp nhận hồ sơ, nộp lệ phí thẩm định theo quy định.

    Trường hợp nhận được Thông báo sửa đổi, bổ sung thì sửa đổi, bổ sung theo hướng dẫn, sau đó nộp lại hồ sơ.

    – Bước 4: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Sở Y tế nhận được hồ sơ hợp lệ và phí thẩm định theo quy định => được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm.

    Thời hạn giải quyết: 30 ngày kể từ ngày Sở Y tế nhận được hồ sơ hợp lệ và lệ phí.

    b) Công bố sản phẩm mỹ phẩm

    Sau khi xin được Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm, Quý khách hàng được quyền sản xuất mỹ phẩm. Tuy nhiên để bán ra thị trường, Quý Khách hàng phải thực hiện công bố lưu hành sản phẩm mỹ phẩm (Căn cứ Thông tư 06/2011/TT-BYT quy định về quản lý kinh doanh mỹ phẩm).

    Thủ tục công bố lưu hành sản phẩm mỹ phẩm sẽ được hướng dẫn chi tiết ở bài viết sau.

    4.2 Đối với hoạt động nhập khẩu mỹ phẩm (áp dụng đối với Quý khách hàng có bán mỹ phẩm nhập khẩu tại cửa hàng)

    Đối với hoạt động nhập khẩu mỹ phẩm từ nước ngoài về bán, Quý Khách hàng phải thực hiện thủ tục để có thể nhập hàng về Việt Nam.

    Theo quy định tại khoản 1 điều 3 Thông tư 06/2011/TT-BYT quy định về quản lý kinh doanh mỹ phẩm thì “Các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm mỹ phẩm ra thị trường chỉ được phép đưa mỹ phẩm ra lưu thông khi đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp số tiếp nhận Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính an toàn, hiệu quả và chất lượng sản phẩm. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra hậu mại khi sản phẩm lưu thông trên thị trường”.

    Như vậy, trước khi làm thủ tục thông quan tại Cảng khi nhập hàng, Quý khách hàng cần phải tiến hành hoạt động công bố lưu hành sản phẩm tại Việt Nam và được cấp số trên Phiếu tiếp nhận. Khi đó mỹ phẩm mới có thể được cơ quan Hải quan đồng ý hay từ chối việc thông quan thông qua việc kiểm tra tính hợp lệ, đầy đủ trong việc mở tờ khai Hải quan, trong đó có Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm.

    Lưu ý: Trường hợp Quý Khách hàng chỉ bán online thông qua các trang mạng xã hội (Facebook, Zalo,…), sàn giao dịch điện tử (Shopee, Lazada,..) và không mở cửa hàng thì bỏ qua mục này, vì pháp luật chưa quy định cụ thể đối với hoạt động kinh doanh này nên chỉ cần tuân thủ các quy định về bán hàng trực tuyến theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.

    5. Các công việc cần làm sau khi thành lập

    Sau khi có GPKD hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp, Quý Khách hàng phải thực hiện các thủ tục sau khi thành lập để phục vụ hoạt động kinh doanh, như khai thuế ban đầu, xin cấp giấy phép con (nếu có), đặt hóa đơn, treo biển hiệu, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu,…`

    >>>Xem chi tiết tại: những vấn đề cần lưu ý sau khi thành lập doanh nghiệp

    6. Lưu ý khác

    Khi bán hàng online, đương nhiên ít nhiều Quý Khách hàng sẽ có chiến lược marketing của riêng mình, đặc biệt là về quảng cáo. Tuy nhiên, pháp luật quy định rất chặt chẽ về vấn đề này và đưa ra các hoạt động bị cấm trong quảng cáo (căn cứ Điều 8 Luật Quảng cáo năm 2012):

    • Quảng cáo những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều 7 của Luật này.
    • Quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh, quốc phòng.
    • Quảng cáo thiếu thẩm mỹ, trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam.
    • Quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội.
    • Quảng cáo gây ảnh hưởng xấu đến sự tôn nghiêm đối với Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Đảng kỳ, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
    • Quảng cáo có tính chất kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, định kiến về giới, về người khuyết tật.
    • Quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân.
    • Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.
    • Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố.
    • Quảng cáo bằng việc sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp về giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với giá cả, chất lượng, hiệu quả sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác.
    • Quảng cáo có sử dụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
    • Quảng cáo có nội dung cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.
    • Quảng cáo vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ.
    • Quảng cáo tạo cho trẻ em có suy nghĩ, lời nói, hành động trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục; gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, an toàn hoặc sự phát triển bình thường của trẻ em.
    • Ép buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo hoặc tiếp nhận quảng cáo trái ý muốn.
    • Treo, đặt, dán, vẽ các sản phẩm quảng cáo trên cột điện, trụ điện, cột tín hiệu giao thông và cây xanh nơi công cộng.

    Trên đây, là toàn bộ bài viết của Luật Vạn Tín về Kinh doanh mỹ phẩm online cần làm thủ tục pháp lý gì?

    Nội dung tư vấn và quy định được dẫn chiếu trong bài viết này là tại thời điểm tư vấn và có thể không còn hiệu lực tại thời điểm Quý khách hàng đọc bài viết này. Do đó, để được tư vấn chi tiết và hỗ trợ thực hiện, vui lòng liên hệ:

    HOTLINE:  028 7309 6558 – 090 282 6558

    FANPAGE: facebook.com/thuviendoanhnghiep 

    EMAIL: info@luatvantin.com.vn

  • Đối tượng áp dụng của luật lao động Việt Nam là ai? Quan hệ pháp luật nào sẽ chịu sự điều chỉnh của luật lao động Việt Nam? HĐLĐ có hiệu lực có phải là một tiền đề bắt buộc trong mối quan hệ lao động không?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Lao Động

    1. Đối tượng áp dụng của luật lao động là gì?

    Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật Lao động, đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động bao gồm:

    NLĐ Việt Nam(2) :

    1. Điều 3.1 Bộ luật Lao động và Điều 3.2 Nghị định 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015.

    – NLĐ từ đủ 18 tuổi trở lên;

    – NLĐ chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của NLĐ; và

    – NLĐ phải có khả năng lao động, làm việc theo HĐLĐ, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLÐ.

     Người học nghề, tập nghề:

    (Điều 58 và Điều 61.1 Bộ luật Lao động.)

    – NLĐ lựa chọn học nghề, tập nghề tại nơi làm việc theo nhu cầu việc làm của mình. Người học nghề, tập nghề được NSDLĐ tuyển vào vừa học nghề, tập nghề và làm việc cho mình. Người học nghề, tập nghề phải đủ 14 tuổi và phải có đủ sức khỏe phù hợp với yêu cầu của nghề.

    NSDLĐ:

    (Điều 3.2 Bộ luật Lao động và Điều 3.1 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12 12/01/2015.)

    • Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HÐLÐ; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

    NLĐ là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam:

    – NLĐ là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam theo các hình thức được quy định tại Điều 2.1 Nghị định 11/2016/NĐ-CP ngày 03/02/2016.

    Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động:

    – Cơ quan, cá nhân có trách nhiệm quản lý nhà nước về lao động: Sở LĐTBXH, Bộ LĐTBXH, Tòa án nhân dân các cấp; chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh.. và các cơ quan, tổ chức khác.

    2. Quan hệ pháp luật nào sẽ chịu sự điều chỉnh của phán luật lao động? HĐLĐ có hiệu lực có phải là một tiền để bắt buộc không?

     Bộ luật Lao động quy định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của NLĐ và NSDLĐ trong mối quan hệ lao động, cụ thể quan hệ thuê mướn, sử dụng, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ, và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Ngoài các mối quan hệ được thiết lập từ HĐLĐ, Bộ luật Lao động còn điều chỉnh những mối quan hệ lao động phát sinh trong quá trình dạy nghề, học nghề, đưa đi đào tạo, quá trình thử việc. Đối với NLĐ là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, chỉ làm việc dưới hình thức để thực hiện HĐLĐ thì các bên mới giao kết HĐLÐ. Các hình thức làm việc khác của NLĐ là là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam (như di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp hay để thực hiện hợp đồng kinh tế, thương mại, dịch vụ) thì HĐLĐ không yêu cầu. Theo đó, HĐLÐ không phải là tiền đề bắt buộc trong mọi trường hợp.

    ( Điều 59, 61 và 62 Bộ luật Lao động. Điều 26 Bộ luật Lao động.)

    Theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Lao động, HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong mối quan hệ lao động. Tuy nhiên, ngoài các quan hệ được thiết lập từ HĐLĐ, Bộ luật Lao động còn điều chính những mối quan hệ lao động phát sinh trong quá trình đạy nghề, học nghề, đào tạo nghề. Do đó, căn cứ vào HĐLĐ để xác định mối quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ là chưa đủ mà cần phải xem xét các mối quan hệ lao động khác đã hình thành trước khi giao kết HĐLÐ như hợp đồng thử việc trong quá trình thử việc, hợp đồng đào tạo nghề trong quá trình học nghề, đào tạo nghề. Đó là chưa kể đến việc xác định mối quan hệ lao động trong trường hợp NLĐ là người nước ngoài cũng không thể chỉ dựa vào HĐLÐ. Việc ký kết HĐLĐ với NLĐ là người nước ngoài đã có giấy phép lao động chỉ áp dụng đối với trường hợp NLĐ là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hình thức thực hiện HĐLĐ.

    (Điều 2.1(a) Nghị định 11/2016/NÐ-CP ngày 03/02/2016.)

  • Việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLÐ phải được hiểu như thế nào cho đúng? Có phải hiểu rằng chỉ cần tồn tại mối quan hệ “lao động – tiền lương” hoặc HĐLÐ trên thực tế thì được xem là có tồn tại mối quan hệ lao động không?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Lao Động

    Điều 3.6 Bộ luật Lao động quy định quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ. Tuy nhiên, Bộ luật Lao động chưa có quy định nào định nghĩa về thuê, mướn lao động. Có thể hiểu rằng thuê mướn lao động là việc NLĐ bán sức lao động cho NSDLĐ; đổi lại NSDLĐ trả lương và các phúc lợi khác cho NLÐ.

    Quan hệ lao động bắt đầu hình thành khi NSDLÐ tuyển dụng NLĐ làm việc cho mình và kéo dài trong suốt khoảng thời gian sử dụng NLĐ. Theo quy định của Bộ luật Lao động, một số quan hệ lao động phát sinh ngay từ trước khi ký kết HĐLĐ như hợp đồng thử việc trong quá trình thử việc, hợp đồng đào tạo nghề trong quá trình học nghề, đào tạo nghề. Tùy vào thỏa thuận cụ thể giữa các bên, mặc dù hai bên thỏa thuận và có thể gọi tên thỏa thuận không phải là HĐLĐ nhưng khi có tranh chấp xảy ra, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể kết luận thỏa thuận đó là HĐLĐ căn cứ vào việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa các bên trên thực tế. Trong trường hợp có phát sinh quan hệ lao động theo quy định tại Điều 3.6 Bộ luật Lao động nêu trên mà các bên không giao kết HĐLĐ, NSDLĐ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về việc không giao kết HĐLĐ đó với mức phạt từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng cho vi phạm từ 01 người đến 10 NLĐ(1).

    1. Điều 5.1 Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/08/2013, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015.

    Như vậy, kể cả khi không giao kết HĐLĐ, quan hệ lao động vẫn tồn tại hình thành nếu giữa NSDLĐ và NLĐ có phát sinh việc thuê, mướn, sử dụng lao động và trả lương trên thực tế.

  • Bảo hiểm y tế là gì?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Lao Động
    • Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật BHYT (Khoản 1, Điều 2, Luật BHYT).
    • Luật BHYT không áp dụng đối với BHYT mang tính kinh doanh (Khoản 3, Điều 1, Luật BHYT).