LVT Lawyers

“Trao trọng trách, trọn niềm tin”

Hotline: 1900.6558

logo-luat-van-tin-tieng-vietlogo-luat-van-tin-tieng-anhlogo-luat-van-tin-korea

CHUYÊN MỤC HỎI ĐÁP

CÂU HỎI - CHUYÊN MỤC Hỏi đáp Nhà Đất

  • Người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu nhà tại Việt Nam không?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài có quyền sở hữu nhà tại Việt Nam. Quyền của người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài được phép sở hữu nhà tại Việt Nam lần đầu tiên được quy định tại Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05-11-2001 của Chính phủ về việc người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam.

    Hiện nay, vấn đề này do Luật nhà ở năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây gọi là Luật nhà ở hiện hành) điều chỉnh. Khoản 2 Điều 9 Luật nhà ở hiện hành quy định: Người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà tại Việt Nam gồm những đối tượng được quy định tại Điều 126 của Luật nhà ở.

  • Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam có bị giới hạn về thời gian sở hữu không?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam không bị giới hạn về thời gian sở hữu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 65 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP, thời hạn sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người  Việt Nam định cư  ở nước ngoài là ổn định, lâu dài.

    Theo Điều 5 Luật nhà ở hiện hành, Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu nhà ở của chủ sỡ hữu. Nhà ở thuộc sờ hữu của tổ chức, cá nhân không bị quốc hữu hóa. Trường hợp thật cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh vì lợi ích quốc gia, Nhà nước quyết định trưng mua hoặc trưng dụng nhà ở thì Nhà nước bồi thường cho chủ sở hữu nhà ở theo giá trị trường tại thời điểm thanh toán và tạo điều kiện để họ tạo lập nhà ở khác.

  • Những căn cứ xác lập quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Về cơ bản, quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người  Việt Nam định cư  ở nước ngoài cũng được xác lập trên cơ sở pháp luật Việt Nam về căn cứ xác lập quyền sở hữu nói chung, được quy định tại Điều 170 Bộ luật dân sự 2005 và từ căn cứ xác lập quyền sở hữu nhà ở là việc có nhà ở được tạo lập hợp pháp thông qua việc đầu tư xây dựng, mua bán, tặng cho, thừa kế, đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của pháp luật, được quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật nhà ở hiện hành.

    Từ những quy định của pháp luật, xuất phát từ thực tế liên quan đến người  Việt Nam định cư  ở nước ngoài, quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của đối tượng này thường được xác lập theo những căn cứ sau đây:

    • Từ việc mua bán nhà ở.
    • Từ việc tặng cho nhà ở.
    • Từ việc thừa kế nhà ở.
  • Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng nhà ở là những giấy tờ như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Đó là các giấy tờ thể hiện về mua bán, tặng cho nhà ở theo quy định của Việt Nam, thể  hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng mua bán, hợp đồng tặng cho nhà ở, theo quy định là loại hợp đồng này phải có công chứng của tổ chức hành nghề công chứng tại Việt Nam.

    Điều 8 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP quy định: Chủ sở hữu nhà ở được chứng nhận quyền sở hữu nhà ở nếu thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở và có giấy tờ chứng minh việc tạo lập hợp pháp về nhà ở theo quy định sau đây:

    1. Hộ gia đình, cá nhân trong nước phải có một trong các loại giấy tờ sau:
      1. Giấy phép xây dựng nhà ở đối với trường hợp phải xin giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.
      2. Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở hoặc giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước từ trước ngày 05 tháng 7 năm 1994.
      3. Giấy tờ về giao hoặc tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết.
      4. Giấy tờ về sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ mà nhà đất đó không thuộc diện Nhà nước xác lập sở hữu toàn dân theo quy định tại Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khóa XI “về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”, Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”.
      5. Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng cho hoặc đổi hoặc nhận thừa kế nhà ở đã có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật.
        Trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế hoặc thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật kể từ ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành thì phải có văn bản về giao dịch đó theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở.
        Trường hợp nhà ở do mua của doanh nghiệp đầu tư xây dựng để bán thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở do hai bên ký kết; trường hợp mua nhà kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 (ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành) thì ngoài hợp đồng mua bán nhà ở, bên bán nhà ở còn phải có một trong các giấy tờ về dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán (quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư).
      6. Bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật.
      7. Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có một trong những giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, e và f khoản này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác thì phải có một trong các giấy tờ về mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 có chữ ký của các bên có liên quan và phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận. Trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 mà không có giấy tờ về việc đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có chữ ký của các bên có liên quan thì phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về thời điểm mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở đó.
      8. Trường hợp cá nhân trong nước không có một trong những giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, e và f khoản này thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở đã được xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006, nhà ở không có tranh chấp, được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật; trường hợp nhà ở xây dựng từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng, không có tranh chấp và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp nhà ở xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006.
    2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có giấy tờ sau:
      1. Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng cho hoặc nhận thừa kế nhà ở hoặc được sở hữu nhà ở thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật về nhà ở.
      2. Một trong các giấy tờ của bên chuyển quyền quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này.
    3. Tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài phải có giấy tờ theo quy định sau:
      1. Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê thì phải có một trong những giấy tờ về dự án nhà ở để cho thuê (quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư).
      2. Trường hợp mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở hoặc được sở hữu nhà ở thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật thì phải có giấy tờ về giao dịch đó theo quy định của pháp luật về nhà ở.
    4. Trường hợp chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là người sử dụng đất ở thì ngoài giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, phải có hợp đồng thuê đất hoặc hợp đồng góp vốn hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc văn bản chấp thuận của người sử dụng đất đồng ý cho xây dựng nhà ở đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật và bản sao giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
  • Các giấy tờ về nhận thừa kế là các giấy tờ gì?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Theo quy định của pháp luật thừa kế, được quy định trong bộ luật dân sự năm 2005 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, những giấy tờ thừa nhận có thể là:

    • Văn bản khai nhận di sản thừa kế.
    • Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
    • Di chúc.
    • Bản án về thừa kế có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
  • Các giấy tờ của bên chuyển quyền là những giấy tờ gì?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Theo quy định tại khoản 1 điều 8 Nghị định số 88/20009/NĐ-CP, các giấy tờ của bên chuyển quyền thể hiện quyền sở hữu nhà ở của bên bán, bên tặng cho, của người để lại di sản thừa kế, gồm một trong những giấy tờ sau:

    1. Giấy phép xây dựng nhà ở đối với trường hợp phải xin giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng:
      1. Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở hoặc giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước từ trước ngày 05 tháng 7 năm 1994.
      2. Giấy tờ về giao hoặc tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết.
      3. Giấy tờ về sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ mà nhà đất đó không thuộc diện Nhà nước xác lập sở hữu toàn dân theo quy định tại Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khóa XI “về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”, Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”.
      4. Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng cho hoặc đổi hoặc nhận thừa kế nhà ở đã có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật.
        Trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế hoặc thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật kể từ ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành thì phải có văn bản về giao dịch đó theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở.
        Trường hợp nhà ở do mua của doanh nghiệp đầu tư xây dựng để bán thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở do hai bên ký kết; trường hợp mua nhà kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 (ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành) thì ngoài hợp đồng mua bán nhà ở, bên bán nhà ở còn phải có một trong các giấy tờ về dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán (quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư).
      5. Bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật.
      6. Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có một trong những giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, e và f khoản này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác thì phải có một trong các giấy tờ về mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 có chữ ký của các bên có liên quan và phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận. Trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 mà không có giấy tờ về việc đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có chữ ký của các bên có liên quan thì phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về thời điểm mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở đó.
      7. Trường hợp cá nhân trong nước không có một trong những giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, e và f khoản này thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở đã được xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006, nhà ở không có tranh chấp, được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật; trường hợp nhà ở xây dựng từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng, không có tranh chấp và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp nhà ở xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006.
    2. Các giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 88/20009/NĐ-CP gồm:
      • Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê thì phải có một trong những giấy tờ về dự án nhà ở để cho thuê (quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư).
      • Trường hợp mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở hoặc được sở hữu nhà ở thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật thì phải có giấy tờ về giao dịch đó theo quy định của pháp luật về nhà ở.
  • Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam bao gồm những giấy tờ gì?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Những giấy tờ cần phải có trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được quy định tại  Điều 19 Điều 20  Điều 21 Nghị định số 88/20009/NĐ-CP, Điều 66 Điều 67 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP

    Theo các quy định này, hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất bao gồm các giấy tờ sau:

    1. Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở.
    2. Bản sao một trong các giấy tờ:
      1. Giấy phép xây dựng.
      2. Quyết định phê duyệt dự án phát triển nhà ở.
      3. Giấy chứng nhận đầu tư.
      4. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
      5. Giấy tờ quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ.
      6. Thỏa thuận đồng ý bằng văn bản của chủ sử dụng đất đối với trường hợp chủ sở hữu nhà ở được xây dựng tại các khu vực không thuộc diện phải có giấy phép xây dựng.
      7. Giấy tờ mua bán, tặng cho, đổi, thanh lý, hóa giá nhà ở.
      8. Hợp đồng thuê nhà ở xã hội, quyết định trao tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương.
      9. Giấy tờ về thừa kế nhà ở, bản án, quyết định của Tòa án, Quyết định của cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật về sở hữu nhà ở.
      10. Giấy tờ xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn ( sau đây gọi chung là UBND cấp xã) đối với các trường hợp khác, trừ nhà ở thuộc các khu vực khác cấm xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng, bản sao giấy chứng nhận đầu tư đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài xây dựng nhà ở cho thuê.
      11. Bản chính hợp đồng mua bán tặng cho, giấy tờ thừa kế nhà theo quy định của pháp luật đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
    3. Giấy tờ xác nhận đối tượng thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định tại điều 126 của Luật nhà ở hiện hành.
    4. Sơ đồ nhà ở, đất ở.

    Ngoài ra, theo điều 20 Nghị định số 88/2009/NĐCP  thì người có yêu cầu còn phải nộp các giấy tờ về quyền sở hữu kèm theo hợp đồng mua bán, tặng cho, giấy tờ thừa kế nhà ở theo quy định của pháp luật và các bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có).

  • Những giấy tờ, tài liệu xác định quyền sở hữu của bên chuyển quyền cụ thể là những loại nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân thuộc diện quy định tại Điều 43 Nghị định số 71/2010/ NĐ-CP thì ngoài các giấy tờ chứng minh việc tạo ;ập nhà ở hợp pháp theo quy định của pháp luật về cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, hộ gia đình, cá nhân còn phải có thêm các giấy tờ quy định sau đây:

    • Đối với nhà ở riêng lẻ thuộc diện quy định tại khoản 2 Điều 43 Nghị định số 71/2010/ NĐ-CP thì phải có bản sao Giấy phép xây dựng ( đối với trường hợp xây dựng nhà ở phải có Giấy phép xây dựng) và bản sao Giấy chứng nhận đảm bảo an toàn chịu lực do đơn vị có chức năng cấp theo quy định của pháp luật về xây dựng.
    • Đối với trường hợp cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu cho từng căn hộ trong nhà ở riêng lẻ thuộc diện quy định tại khoản 3 điều 43 Nghị định số 71/2010/ NĐ-CP thì phải có bản sao giấy phép xây dựng nhà ở đó ( đối với trường hợp xây dựng nhà ở phải có giấy phép xây dựng) kèm theo các bản vẽ; bản vẽ mặt bằng của từng tầng căn hộ do chủ nhà tự đo vẽ hoặc thuê tổ chức có chức năng về đo vẽ thực hiện đo vẽ. Trong trường hợp do chủ nhà tự đo vẽ thì cơ quancap61 giấy chứng nhận phải tổ chức kiểm tra về diện tích tối thiểu từng căn hộ, phần diện tích sử dụng chung diện tích sử dụng riêng theo quy định tại khoản 3 điều 43 Nghị định số 71/2010/ NĐ-CP( Điều 9 thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01.09.2010 của Bộ xây dựng quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số 71/2010/NĐ-CP).
  • Yêu cầu về việc xây dựng nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân, khảo sát, thiết kế và xây dựng nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân và phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu được quy định như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Theo điều 41 Nghị định số 71/2010/ NĐ-CP thì Yêu cầu về việc xây dựng nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân được quy định như sau:

    • Hộ gia đình, cá nhân chỉ được xây dựng nhà ở trên diện tích đất đã có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và không thuộc diện bị cấm xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.
    • Trước khi xây dựng nhà ở riêng lẻ, hộ gia đình, cá nhân phải làm thủ tục để cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng, trừ trường hợp được miễn Giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.
    • Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép xây dựng nhà ở phải căn cứ vào tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng và quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 hoặc quy hoạch điểm dân cư nông thôn đối với khu vực đã có quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt để thực hiện cấp Giấy phép xây dựng nhà ở cho hộ gia đình, cá nhân theo đúng thời hạn quy định của pháp luật về xây dựng.

    Về khảo sát, thiết kế và xây dựng nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân điều 42 Nghị định số 71/2010/ NĐ-CP quy định:

    • Việc khảo sát, thiết kế nhà ở riêng lẻ của hộ gia đình, cá nhân được thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng. Đối với nhà ở riêng lẻ tại khu vực đô thị có tổng diện tích sàn xây dựng từ 250m2 trở lên hoặc cao từ ba tầng trở lên (tính cả tầng hầm) thì phải do các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động thiết kế xây dựng hoặc năng lực hành nghề thiết kế xây dựng thực hiện thiết kế.
    • Trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ tại khu vực đô thị mà có tổng diện tích sàn xây dựng từ 250 m2trở lên hoặc có chiều cao từ ba tầng trở lên (tính cả tầng hầm) thì hộ gia đình, cá nhân phải thuê nhà thầu có đủ năng lực theo quy định của pháp luật về xây dựng thực hiện thi công xây dựng.
    • Hộ gia đình, cá nhân phải xây dựng nhà ở theo đúng thiết kế và Giấy phép xây dựng đã được cấp, chấp hành các quy định của pháp luật về xây dựng trong quá trình xây dựng nhà ở và chịu trách nhiệm về chất lượng nhà ở.
    • Việc xây dựng nhà ở phải bảo đảm an toàn về người và tài sản, trường hợp gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

    Phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu điều 49 Nghị định số 71/2010/ NĐ-CP quy định như sau:

    1. Phần sở hữu riêng và các thiết bị sử dụng riêng trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm:
      1. Phần diện tích bên trong căn hộ (kể cả diện tích ban công, lô gia gắn liền với căn hộ đó) của chủ sở hữu căn hộ, phần diện tích khác trong nhà chung cư mà chủ đầu tư bán cho riêng từng chủ sở hữu căn hộ hoặc bán cho các tổ chức, cá nhân khác.
      2. Phần diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư (chủ đầu tư giữ lại, không bán và cũng không phân bổ giá trị phần diện tích thuộc sở hữu riêng này vào giá bán căn hộ cho các chủ sở hữu căn hộ).
      3. Các thiết bị sử dụng riêng trong căn hộ, trong phần diện tích khác thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu căn hộ hoặc của các chủ sở hữu khác.
      4. Chủ sở hữu căn hộ, chủ sở hữu các phần diện tích khác trong nhà chung cư quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gọi chung là các chủ sở hữu nhà chung cư.
    2. Phần sở hữu chung nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm phần diện tích và các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư được quy định như sau:
      1. Phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư bao gồm: không gian, hành lang, cầu thang bộ, cầu thang máy, sân thượng, khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, đường thoát hiểm, hệ thống bể phốt, lối đi bộ, sân chơi chung và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư.
      2. Phần diện tích khác không phải là phần diện tích thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư quy định tại khoản 1 Điều này.
      3. Nơi để xe (xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh) được xây dựng theo quy chuẩn xây dựng và có thể bố trí tại tầng hầm hoặc tại tầng một hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư. Đối với khu vực để xe ô tô thì phải xây dựng theo quy chuẩn xây dựng nhưng do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư quy định tại khoản 1 Điều này.
      4. Các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư quy định tại khoản 3 Điều 70 của Luật Nhà ở.
      5. Phần diện tích thuộc sở hữu chung quy định tại khoản này được dùng để sử dụng chung cho các chủ sở hữu nhà chung cư theo quy định của Luật Nhà ở, Nghị định này và quy định về quản lý sử dụng nhà chung cư.
    3. Phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung nhà chung cư quy định tại Điều này phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư.
  • Thế nào là nhà ở xã hội? Việc thuê mua nhà ở xã hội được pháp luật quy định như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Nhà ở xã hội là một loại nhà cung cấp cho những người không có thu nhập, hoặc có nhưng không đáng kể. Họ là những người không thể nào và không bao giờ tự kiếm mình kiếm được một chỗ ở. Những người này thường là người vô gia cư, người già đơn thân, người tật nguyền, người đau yếu không nơi nương tựa, những người sau khi mãn hạn tù nhưng không còn sức lao động.

    Việc thuê mua nhà ở xã hội được pháp luật quy định như sau:

    • Việc thuê mua nhà ở xã hội phải thực hiện thông qua hợp đồng được ký giữa chủ đầu tư và người thuê mua.
    • Sau khi trả trước 20% giá trị nhà ở thuê mua, bên thuê mua được quyền trả số tiền còn lại theo thời gian do chủ đầu tư và bên thuê mua thỏa thuận, nhưng tối thiểu là 10 năm, kể từ ngày ký hợp đồng thuê mua nhà ở.
    • Khi hết thời hạn thuê mua nhà ở và bên thuê mua đã trả hết số tiền còn lại theo quy định, chủ đầu tư có trách nhiệm làm thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người thuê mua.
    • Chủ đầu tư được quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thuê mua nhà ở xã hội và thu hồi nhà ở đang cho thuê mua khi phát sinh một trong các trường hợp sau đây:
      • Người thuê mua không trả tiền thuê nhà liên tục trong ba tháng mà không có lý do chính đáng.
      • Người thuê mua tự ý sửa chữa, đục phá kết cấu, cải tạo hoặc cơi nới nhà ở thuê mua.
      • Người thuê mua bán nhà ở thuê mua trái với quy định hoặc chuyển quyền thuê mua cho người khác mà không được sự đồng ý của bên cho thuê mua.

      Các trường hợp vi phạm quy thì người thuê mua được thanh toán lại 20% tiền thuê mua (không tính lãi). Trường hợp vi phạm quy định tại điểm c khoản này thì bên thuê mua không được thanh toán lại số tiền 20% mà mình đã trả trước đây.

    • Các tranh chấp về hợp đồng thuê mua nhà ở được giải quyết thông qua hòa giải. Trong trường hợp hòa giải không thành thì các bên có quyền yêu cầu tòa án giải pháp theo quy định của pháp luật.
  • Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với các giao dịch về mua bán, tặng cho, đổi, thuê mua, thừa kế nhà ở được quy định như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với các giao dịch về mua bán, tặng cho, đổi, thuê mua, thừa kế nhà ở được quy định như sau:

    • Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp mua bán nhà ở được tính từ ngày hợp đồng mua bán nhà ở được công chứng hoặc chứng thực. Trường hợp mua bán nhà ở mà bên bán là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là thời điểm bên bán bàn giao nhà ở cho bên mua theo thỏa thuận trong hợp đồng.
    • Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp tặng cho nhà ở được tính từ ngày hợp đồng tặng cho nhà ở được công chứng hoặc chứng thực. Trường hợp pháp nhân tặng cho nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở cho bên được tặng cho được tính từ ngày bên tặng cho ký văn bản tặng cho.
    • Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp đổi nhà ở được tính từ ngày hợp đồng đổi nhà ở được công chứng hoặc chứng thực. Trường hợp hai bên đổi nhà ở là doanh nghiệp có chức năng kinh doanh bất động sản thì thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với nhà ở nhận đổi là thời điểm bàn giao nhà ở theo thỏa thuận trong hợp đồng đổi nhà ở.
    • Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp thuê mua nhà ở được tính từ thời điểm bên thuê mua được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở thuê mua theo quy định pháp luật.
    • Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp thừa kế nhà ở được tính từ thời điểm mở thừa kế. Việc xác định tổ chức, cá nhân thừa kế nhà ở được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
    • Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với trường hợp mua nhà ở trả chậm, trả dần được tính từ ngày bên mua thanh toán hết tiền mua nhà ở cho bên bán, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
  • Tôi ở quận 7, có sở hữu diện tích đất ở 200 m2. Nay tôi dự định bán một phần diện tích 70 m2 cho người hàng xóm. Vật với diện tích này tôi có thể tách thửa để bán được không?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Theo Quyết định  số 19 của UBND Thành phố năm 2009 quy định về diện tích đất tối thiểu sau khi tách thửa thì điều kiện để tách thửa đối với đất ở khu vực quận 7 được quy định như sau:

    • Thửa đất mới hình thành và thửa đất còn lại, sau khi trừ lộ giới, diện tích tối thiểu ở quận 7 đối với đất chưa có nhà là 80m2 và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 5m và đối với đất có nhà 50m2 và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 4m trừ các trường hợp không được tách thửa theo quy định của pháp luật.

    Như vậy, bạn muốn tách thửa đất 70 m2 là chưa đủ diện tích tối thiểu để được tách thửa đối với đất ở chưa có nhà.

  • Căn cứ cho phép, đình chỉ xây dựng, cải tạo nhà ở?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Việc cho phép xây dựng, cải tạo nhà ở phải căn cứ vào quy hoạch xây dựng đô thị và điểm dân cư nông thôn.

    Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện theo phân cấp phê duyệt dự án phát triển nhà ở trên địa bàn.

    Việc xây dựng, cải tạo nhà ở phải có giấy phép xây dựng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp không thuộc diện phải có giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.

    Việc xây dựng, cải tạo nhà ở không tuân thủ đúng quy định thì cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án phát triển nhà ở, cấp phép xây dựng có quyền đình chỉ việc xây dựng, cải tạo nhà ở.

  • Tôi đang ở Quận 3 TP. Hồ Chí Minh. Nhà của tôi có một số hư hỏng ở bên trong: như sơn tường bong tróc, ẩm ướt, toilet tạm bợ, cửa nhà bị gỉ sét. Tôi muốn sửa lại bên trong cho phù hợp. Vậy có phải xin phép xây dựng không?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 62 Luật Xây dựng và Điều 19 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ Về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình: Đối với các trường hợp sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình mà không làm thay đổi kiến trúc, kết cấu chịu lực và an toàn của công trình thì chủ đầu tư không cần phải có giấy phép xây dựng trúc khi xây dựng công trình.

    Trường hợp việc sửa chữa, lắp đặt của bạn không làm thay đổi kiến trúc hay kết cấu chịu lực và an toàn của căn hộ thì anh không cần làm thủ tục cấp giấy phép xây dựng. Tuy nhiên, trước khi khởi công xây dựng anh phải gửi văn bản thông báo ngày khởi công kèm theo các bản vẽ mặt bằng xây dựng, mặt bằng móng, mặt đứng chính công trình cho UBND quận 3 và UBND phường biết, để theo dõi và quản lý theo quy định.

    Ngược lại, nếu việc sửa chữa, cải tạo công trình làm thay đổi kết cấu chịu lực và sự an toàn của công trình thì trước khi xây dựng, anh cần phải có Giấy phép xây dựng công trình.

  • Khi phát hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định thì Cơ quan có thẩm quyền xử lý như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Trường hợp có văn bản của cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra kết luận là Giấy chứng nhận đã cấp trái với quy định của pháp luật thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp.

    Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận tự kiểm tra và phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp là trái pháp luật thì có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới cơ quan thanh tra cùng cấp để thẩm tra; Thanh tra cấp huyện có trách nhiệm thẩm tra đối với Giấy chứng nhận do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp, Thanh tra cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm tra đối với Giấy chứng nhận do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp. Nếu qua thẩm tra có kết luận là Giấy chứng nhận cấp trái pháp luật thì cơ quan nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp.

    Trường hợp tổ chức, công dân phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận. Cơ quan nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định.

    Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với các trường hợp khác chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực thi hành.

  • Quyền lựa chọn hình thức sử dụng đất đối với trường hợp thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê được quy định như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Nhà đầu tư là tổ chức kinh tế trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được lựa chọn hình thức Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm để thực hiện dự án xây dựng nhà ở để cho thuê.

    Nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được lựa chọn hình thức Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê hoặc cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm để thực hiện dự án xây dựng nhà ở để cho thuê.

  • Thời hạn sử dụng đất đối với đất phi nông nghiệp được sử dụng ổn định lâu dài trước ngày 01/7/2004 được pháp luật quy định như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Đất phi nông nghiệp được sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 của tổ chức kinh tế do được giao đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng theo dự án; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không phải do Nhà nước giao, cho thuê thì nay tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được tiếp tục sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích phi nông nghiệp, không phải nộp tiền sử dụng đất khi được phép chuyển mục đích sử dụng đất sang làm đất ở, được bồi thường về đất theo giá đất ở khi Nhà nước thu hồi đất.

  • Thẩm quyền thu hồi đất được quy định như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

    Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất theo quy định không được uỷ quyền.

  • Đất của gia đình tôi có bằng khoán của chế độ cũ nhưng chúng tôi chưa làm thủ tục cấp “giấy đỏ”. Nếu nhà nước thu hồi đất, gia đình tôi có được bồi thường hay không?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Theo khoản 3 Điều 8 Nghị định 197 ngày 3-12-2004 của Chính phủ, những trường hợp đất đã có giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của chế độ cũ cấp cho hộ gia đình, cá nhân, hiện đang được sử dụng ổn định và được UBND cấp xã xác định là đất không có tranh chấp thì đủ điều kiện được bồi thường đất. Khi nhận tiền bồi thường, nếu trước đây chưa thanh toán những nghĩa vụ tài chính về đất đai như lệ phí trước bạ, thuế đất… thì nay gia đình bạn phải đóng cho nhà nước các khoản tiền này.

  • Việc bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Trường hợp thu hồi đất mà diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì được bồi thường theo quy định sau:

    • Nếu diện tích đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
    • Nếu diện tích đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất do việc đo đạc trước đây thiếu chính xác hoặc do khi kê khai đăng ký trước đây người sử dụng đất không kê khai hết diện tích nhưng toàn bộ ranh giới thửa đất đã được xác định, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề, không do lấn, chiếm thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
    • Nếu diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận diện tích nhiều hơn là do khai hoang hoặc nhận chuyển quyền của người sử dụng đất trước đó, đất đã sử dụng ổn định và không có tranh chấp thì được bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
    • Không bồi thường về đất đối với phần diện tích đất nhiều hơn diện tích đất ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất mà diện tích đất nhiều hơn là do hành vi lấn, chiếm mà có.
  • Gia đình tôi có một diện tích đất nông nghiệp 8.000 m2 bị thu hồi toàn bộ để thực hiện dự án của địa phương. Tôi có được bồi thường đất nông nghiệp không? Nếu không tôi sẽ được bồi thường như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Đối với trường hợp của bạn sẽ được ưu tiên bồi thường bằng đất nông nghiệp. Nếu không có đất để bồi thường sẽ bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng.

    Ngoài tiền bồi thường, Nhà nước sẽ hỗ trợ các chi phí: Ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo và chuyển đổi nghề và tạo việc làm,…

  • Thời điểm bàn giao đất đã bị thu hồi được quy định như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Trong thời hạn hai mươi (20) ngày, kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được xét duyệt thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

  • Việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi được quy định thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà người bị thu hồi đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định thì người bị thu hồi đất được bồi thường, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.

    Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở. Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

    • Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn, trường hợp giá trị quyền sử dụng đất ở bị thu hồi lớn hơn đất ở được bồi thường thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền đối với phần chênh lệch đó.

    Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới. 

    Trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi giá trị nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện trong giá trị được bồi thường, hỗ trợ.   

    Chính phủ quy định việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi và việc hỗ trợ để thực hiện thu hồi đất.

  • Nguyên tắc bồi thường của Nhà nước khi thực hiện thu hồi đất?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện theo quy định thì được bồi thường. Trường hợp không đủ điều kiện được bồi thường thì ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là ủy ban nhân dân cấp tỉnh) xem xét để hỗ trợ.

    Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thực hiện thanh toán bằng tiền.

    Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả ngân sách nhà nước.

  • Giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại được quy định thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ, không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng.

    Trường hợp thực hiện bồi thường chậm được quy định như sau :

    • Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất tại thời điểm bồi thường do ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi;
    • Bồi thường chậm do người bị thu hồi đất gây ra, nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi.

    Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí thực tế người sử dụng đất đã đầu tư vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng bao gồm: tiền thuê đất trả trước còn lại, chi phí san lấp mặt bằng và một số chi phí khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất, mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được.

  • Bồi thường đất ở đối với những người đang đồng quyền sử dụng đất được quy định thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất chung có đồng quyền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi được bồi thường theo diện tích đất thuộc quyền sử dụng; nếu không có giấy tờ xác định diện tích đất thuộc quyền sử dụng riêng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thì bồi thường chung cho các đối tượng có đồng quyền sử dụng đất.

    Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn việc phân chia tiền bồi thường đất ở của nhà chung cư cho các đối tượng đồng quyền sử dụng tại địa phương mình.

  • Ông ngoại tôi mất để lại căn nhà tại TP. Hồ Chí Minh, nhưng các dì và cậu tôi không thống nhất để ai đứng tên trên “giấy hồng”. Nên chúng tôi dự định sẽ để tất cả đất đứng tên bà ngoại tôi. Vậy bà ngoại tôi có đứng tên trên đất được không? Bà tôi năm nay 70 tuổi và vẫn còn minh mẫn.
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Điều 5 Quyết định 54 ngày 30-3-2007 của UBND TP.HCM không quy định về độ tuổi tối đa của người được cấp “giấy hồng”. Vì vậy, bà ngoại của bạn vẫn được đại diện đứng tên trên “giấy hồng” của căn nhà nêu trên. Nếu bà lớn tuổi, không tiện đi lại để nộp hồ sơ thì bà có thể ủy quyền cho người khác đi thay. Hợp đồng ủy quyền có thể làm tại UBND cấp quận hoặc tại các cơ quan công chứng.

  • Gia đình tôi và gia đình một người hàng xóm cùng chung một ngõ rộng 3,5m. Hiện nay gia đình hàng xóm đang xây nhà trên toàn bộ diện tích đất được cấp, bắt đầu xây tầng hai họ làm một ban công nhô ra chiếm khoảng không của ngõ đi với chiều rộng 0,9m, dài 2,5m. Tôi đã nhắc nhở nhưng họ nói rằng luật cho phép xây ban công cách mặt đất 3,5m. Họ nói thế có đúng không và tôi có quyền yêu cầu họ không được sử dụng khoảng không chung?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Từ độ cao 3,5m tính từ mặt đất trở lên, ban công, mái đua, ô văng… được phép vượt quá chỉ giới đường đỏ nhưng phải đảm bảo điều kiện sau: nếu chiều rộng lộ giới từ dưới 7m thì độ vươn ra tối đa là 0m; từ 7m đến 12m được vươn ra đối đa 0,9m; Từ trên 12m đến 15m được phép vươn ra 1,2m và trên 15m trở lên độ vươn ra tối đa là 1,4m. Như vậy, với chiều rộng của ngõ đi chung có 2,5m thì nhà hàng xóm của bạn không được phép xây dựng ban công nhô ra quá chỉ giới xây dựng (chỉ được xây dựng trong khuôn viên đất được cấp).

  • Cha mẹ tôi xây nhà từ trước ngày 30-4-1975. Do đất rộng và muốn cho thoáng nên có để dư 1 khoảng đất trống bên hông nhà rộng 0,5m để mở cửa sổ và đặt ống thoát nước. Nay nhà bên cạnh xây nhà theo đúng ranh đất của họ, nhưng lại đặt ô văng cửa sổ lấn sang khoảng không thuộc đất của gia đình tôi, như vậy có đúng pháp luật không? Pháp luật quy định việc sử dụng khoảng không và trong lòng đất như thế nào?
    Chuyên mục : Hỏi đáp Nhà Đất

    Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    Người sử dụng đất không được làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.

    Theo các quy định trên, nếu nhà hàng xóm đặt ô văng cửa sổ lấn sang khoảng không gian trống thuộc khuôn viên đất của bà là trái pháp luật, cần phải dỡ bỏ. (Theo khoản 2 Điều 11 Luật Đất đai và khoản 2 Điều 265 Bộ Luật Dân sự).